|
Trong điều kiện đất chật, người đông, giá đất ở các khu đô thị cao
ngất ngưởng, nhiều địa phương ven biển ở Việt Nam đang chọn giải pháp
xây dựng các khu đô thị lấn ra biển để mở rộng quỹ đất.
Tiến sĩ Bùi Quốc Nghĩa, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư
vấn Phát triển Duyên Hải, cho biết chỉ riêng doanh nghiệp của ông, thời
gian qua đã đảm nhận việc tư vấn cho hơn 10 dự án khu đô thị lấn biển
dọc theo bờ biển từ Vũng Tàu tới các tỉnh miền Trung
Ông nói: “Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động của biến
đổi khí hậu nặng nề nhất. Vấn đề chúng ta phải đối phó là biển đang gặm
nhấm đất liền, do nước biển dâng và xói lở. Theo tôi, lấn biển là một
giải pháp chống biến đổi khí hậu chủ động. Việc xây đô thị lấn biển
không chỉ làm tăng quỹ đất, mà còn có thể chủ động bảo vệ phần bãi biển
hiện hữu. Cách làm này tốt hơn nhiều so với chỉ thụ động ứng phó”.
Nhìn chung, các nhà khoa học về môi trường đều ủng hộ giải pháp lấn
biển và coi đó là việc cần làm để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế và
chủ động ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, điều đó
không có nghĩa là chạy theo các mục tiêu kinh tế mà xem nhẹ vấn đề tác
động của môi trường, nhất là ở khu vực miền Trung, nơi thường xuyên
gánh chịu những trận bão lớn và địa hình có độ dốc lớn.
Tiến sĩ Phạm Bình Quyền, Giám đốc chi nhánh Bắc Trung bộ Viện Môi
trường và Phát triển bền vững, nói với phóng viên TBKTSG từ cuộc họp
bàn về bảo vệ rừng ngập mặn ven biển: “Lấn biển nhất thiết phải thực
hiện trong một quy hoạch tổng thể của cả nước và chỉ được làm ở những
địa điểm được xác định là phù hợp. Thời gian qua, việc lấn biển diễn ra
khá tràn lan, không ít rừng ngập mặn ven biển, những cánh rừng phòng hộ
quan trọng, đã bị tàn phá vì các mục tiêu kinh tế khác nhau”. Ông cũng
lưu ý về khía cạnh an toàn, nhất là ở vùng miền Trung. “Sức tàn phá ghê
gớm của những trận bão vào nửa cuối năm ngoái ở miền Trung làm cho đô
thị lấn biển trở nên thiếu an toàn, nếu không tính toán, cân nhắc kỹ về
các giải pháp thích ứng”, ông nhấn mạnh. Cũng với quan điểm thận trọng,
Tiến sĩ Nguyễn Đình Hòe, khoa Môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tán
thành việc phải có quy hoạch tổng thể cho vấn đề lấn biển. Ông nhấn
mạnh: “Những khu vực nhạy cảm với môi trường, như khu bảo tồn thiên
nhiên, vùng danh lam thắng cảnh tự nhiên... nhất định không được tác
động vào. Những nơi không thuộc diện bảo vệ, thì có thể lấn, nhưng phải
có đánh giá tác động môi trường thật kỹ và khâu thẩm định cũng phải
thật chất lượng”.
Tán thành quan điểm trên, ông Bùi Quốc Nghĩa cho rằng, can thiệp vào
biển chỉ mang lại hiệu quả tích cực nếu làm đúng và điều này chỉ có thể
thực hiện trong một chương trình tổng thể. Ông tiết lộ, thực tế tư vấn
cho nhiều dự án lấn biển trong thời gian qua cho thấy, không ít dự án
sai ngay từ đầu. May mà chủ đầu tư đã cẩn trọng mời tư vấn, nên sớm
phát hiện vấn đề để sửa sai. Ông Nghĩa cho rằng, những khu vực bờ biển
có nhiều ao xoáy, bị xói lở, thì lấn biển là giải pháp bảo vệ bờ biển
chủ động và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, không phải những điểm bị xói lở
nào cũng có sức hút với nhà đầu tư về mặt kinh tế và ngược lại, không
hiếm nơi nhạy cảm với môi trường nhưng lại rất hấp dẫn nhà đầu tư. “Mỗi
dự án đều phải được xét trong tổng thể, vì nó liên quan đến nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực. Chúng ta phải tùy thuộc vào lĩnh vực ưu tiên để
xem xét tác động của nó và quyết định”.
Với một dự án lấn biển, có rất nhiều yếu tố cần phải xem xét kỹ lưỡng,
chẳng hạn như tác động của sóng biển, thủy triều, bão lũ; vấn đề dòng
chảy và xói lở; vấn đề môi trường sống, sinh sản của sinh vật biển;
giải quyết chất thải đô thị… Thông thường, dự án lấn biển nào cũng phải
xây dựng đê chắn sóng, nhằm bảo vệ và chống xói lở cho vùng đất lấn.
Ông Nguyễn Đình Hòe cho biết, đắp đê để chống xói lở cho chỗ này, có
thể sẽ gây xói lở cho chỗ khác. Chính vì vậy, việc đánh giá tác động
môi trường phải được xem xét trong một tổng thể chung của cả khu vực,
không thể chỉ làm bó hẹp trong phạm vi mỗi dự án. Đây cũng là vấn đề
ông Nguyễn Bình Quyền lo ngại nhất. Ông nói: “Trên danh nghĩa, báo cáo
đánh giá tác động môi trường phải qua nhiều cấp thẩm định, từ địa
phương tới trung ương. Nhưng không ít trường hợp chỉ được xem xét một
cách riêng lẻ, nên không có sự đánh giá tổng thể. Đó là chưa nói đến
việc nghiên cứu và thẩm định thực sự có chất lượng hay không, hay là
chỉ mang tính thủ tục”.
|